130 Năm Dinh Thầy Thím

Nét đẹp quần thể kiến trúc nghệ thuật dinh Thầy Thím

Toạ lạc giữa một khu rừng trầm mặc, yên tĩnh cách biệt với cuộc sống đời thường, Dinh Thầy Thím càng trở nên lắng đọng, tôn nghiêm giữa khung cảnh thiên nhiên huyền ảo. Kiểu dáng kiến trúc và và những hoạ tiết trang trí nghệ thuật ở ngoại thất cũng như cách bài trí, thờ phụng ở nội thất thể hiện rõ tín ngưỡng dân gian. Đặc biệt là nội dung sự tích Dinh Thầy Thím, nội dung tôn thờ và các hình thức sinh hoạt, lễ hội dân gian hàng năm tại Dinh gắn với tập quán, tín ngưỡng và đời sống tinh thần của nhân dân địa phương.

dinh-thay-thiem (2)

Dinh Thầy Thím một trong ba cụm di tích danh thắng và có thế mạnh trên lĩnh vực văn hoá du lịch và an dưỡng của Tỉnh Bình Thuận (ở phía bắc có chùa Cổ Thạch và đình Bình An, ở trung tâm có Lầu Ông Hoàng và chùa núi Tà Cú). Trong đó, Dinh Thầy Thím là nơi thu hút đông đảo nhân dân trong tỉnh và du khách các tỉnh miền Trung và Nam bộ đến thăm viếng, an dưỡng.
Đường vào Dinh Thầy Thím xa xôi, vất vả nhưng du khách sẽ quên đi mệt nhọc trước khung cảnh thiên nhiên, non nước hữu tình của một vùng quê miền duyên hải. Du khách như bị cuốn hút vào những cánh đồng xanh, những dãi rừng xanh ngát vươn lên trên những động cát trắng phau và bên tai vọng tiếng sóng vỗ rì rào như mời gọi của biển. Những âm sắc ngọt ngào của đồng quê, núi rừng và biển cả như nâng gót du khách đến Dinh.

Quần thể kiến trúc của Dinh được bao bọc bởi một bức tường hình thang vuông, chu vi gần 600m như tôn thêm vẻ trang nghiêm của Di tích. Vòng thành trổ ba lối vào Dinh, cổng chính ở phía trước và cổng phụ ở hai bên tả hữu. Cũng như các công trình kiến trúc tôn giáo khác ở Bình Thuận, Dinh Thầy Thím trước kia được xây dựng bề thế, trang nghiêm bằng những nguyên vật liệu cổ truyền sẵn có tại địa phương. Trong kiến trúc, gỗ đóng vai trò chủ đạo, chất vữa kết dính được pha trộn từ vôi, cát, mật đường, nhựa cây, mái lợp ngói âm dương cổ, nền lát gạch Bát tràng.

Các công trình kiến trúc chính của Dinh Thầy Thím đều quay về hướng Tây, gồm có: Cổng chính, Võ ca, nhà tiền hiền, bình phong, khu mộ Thầy – Thím và một số công trình phụ cận. Nét tương đồng mang tính chất đặc biệt trong kiến trúc của Dinh là toàn bộ các công trình chính như Chánh điện, Võ ca, nhà tiền hiền đều sử dụng lối kiến trúc “tứ trụ”, một mô hình kiến trúc tôn giáo rất phổ biến ở Bình Thuận trong các thế kỷ XVIII – XIX. Điểm độc đáo mang sắc thái riêng của Dinh là kiểu dáng “tứ trụ” (4 cột chính ở trung tâm nhà) được trau chuốt và tạo dáng rất tinh tế, đạt đến đỉnh cao của sự hoàn mỹ trong nghệ thuật điêu khắc gỗ, ở đây toàn bộ chân đế của các cột chính được gờ chỉ, cách điệu dạng một bình hoa mềm mại, phần thân cột vát thành hình trụ vuông vức, phần đỉnh cột thu nhỏ dạng hình trụ tròn. Nét kiến trúc này là một trường hợp hiếm hoi và lý thú trong gần 300 di tích ở Bình Thuận.

1. Chính điện:

Nằm ở vị trí trung tâm, đây là công trình kiến trúc bề thế, tôn nghiêm so với các công trình khác trong quần thể di tích. Chính điện có diện tích 70m2, bộ nóc kiến tạo thành hai tầng, mỗi tầng bốn mái. Tầng trên thu nhỏ vút cao như một cổ lầu, trang trí hình tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” đắp nổi trang nghiêm. Dọc theo các bờ quyết của hai tầng máigắn kết các phù điêu đắp nổi như “tứ linh”, giao long và nhiều hoạ tiết hoa lá vừa thâm nghiêm, cổ kính nhưng cũng hết sức mềm mại, uyển chuyển.

Bộ khung chính điện được gắn kết với nhau theo lối “tứ trụ”, 4 cột gổ chính ở trung tâm vừa hợp lực nâng đỡ đỉnh nóc và cổ lầu bên trên, vừa liên kết giằng giữ lấy các vì cột con toả đều bốn hướng xung quanh, tạo nên một bộ khung vững chắc và cân đối. Ngoài các cột chính ở trung tâm được chạm khắc và tạo dáng độc đáo như chúng tôi đã mô tả, các bộ phận còn lại như kèo, trính con đội (cột trốn), … đều được trau chuốt, gờ cạnh công phu. Ở đây con đội được chăm chút khá tỉ mĩ, phần đế toả rộng có dáng dấp như mặt hổ phù, phần thân phình ra và phần đỉnh tóp tại như một chiếc bình cắm hoa.

Nội thất chính điện chứa đựng nhiều hiện vật cổ như: hoành phi, câu đối, bao lam, hương án, khám thờ được bài trí trang nghiêm. Tất cả những hiện vật ở nội thất ngoài chức năng thờ phụng còn có giá trị về lịch sử, văn hoá và điêu khắc, tạo hình. Những mảng điêu khắc gỗ với nhiều đề tài, hoạ tiết phong phú như “tứ linh”, thiên nhiên, muôn thú, hoa lá, … vừa thể hiện được chức năng tôn giáo, tín ngưỡng thiêng liêng, nhưng cũng hết sức gần gũi với cuộc sống và sinh hoạt thường ngày của chúng ta. Chính điện còn chứa đựng nhiều văn tự Hán cổ có giá trị về mặt lịch sử, văn học dân gian, nội dung chủ yếu ca ngợi công lao, tài đức của Thầy Thím và những lời hay ý đẹp giáo dục nhân cách, đạo đức và thuần phong mỹ tục cho hậu thế. Đặc biệt, ở chính điện còn bảo lưu được những tư liệu quý giá ghi lại niên đại tu bổ Dinh chạm khắc trên thanh xà gồ, giúp cho các nhà nghiên cứu và những thế hệ đi sau có cơ sở xác định thời gian tạo dựng và tu bổ di tích này.

2. Nhà Võ ca:

Nối liền với chính điện về phía trước, diện tích 81m2. Trong tổng thể chung, nhà võ ca còn bảo lưu được diện mạo ban đầu khá nguyên vẹn từ kết cấu bộ khung, tường vách cho đến vật liệu lợp và lát nền. Cũng như chính điện, nhà võ ca cũng được lắp ghép theo lối kiến trúc “tứ trụ”, các cột gỗ chính ở trung tâm cũng có công năng và được chạm khắc, tạo dáng tương tự các cột chính ở Chính điện. Các bộ phận cột, kèo, trính được gờ cạnh và tạo dáng thánh thót. Ở đây con đội được khắc hoạ theo dáng dấp con đội ở Chính điện, nhưng phần thân được thể hiện tỉ mỉ, sắc sảo hơn bởi những cánh hoa sen nở rộ mềm mại.

Bộ nóc nhà Võ ca có 4 mái  lợp ngói âm dương cổ. Đỉnh nóc trang trí hình tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” bằng sứ oai nghiêm. Trên các bờ quyết và hai bên đầu hồi được đắp nổi các phù điêu “tứ linh”, giao long và hoa lá thể hiện nét tôn nghiêm và hài hoà, uyển chuyển. Trên 4 bức tường phía trong và trước mặt tiền của nhà võ ca đắp nổi nhiều hoạ tiết trang trí nghệ thuật như rồng, phượng, thiên nhiên, hoa lá và các điển tích xưa mô tả lại sự tích Thầy Thím và cảnh lao động, sinh hoạt của các thế hệ cha ông ngày trước được thể hiện khá sinh động. Nội thất võ ca còn lưu giữ nhiều văn tự Hán cổ được chạm khắc trên thân các cột chính, trên các bức hoành có các nội dung giáo dục sâu sắc đối với hậu thế. Ở nhà Võ ca còn có một thanh xà, có ghi lại niên đại tu bổ chạm khắc bằng chữ Hán cổ.

Nhà Võ ca là nơi thực hiện các nghi thức lễ hội truyền thống hàng năm, nơi nhân dân và du khách đến dâng hương, hoa và tưởng nhớ đến công lao của Thầy Thím, ông bà tổ tiên đã dày công vun đắp mảnh đất này, để các thế hệ con cháu đi sau được yên vui và hạnh phúc.

3. Nhà tiền hiền:

Ở bên tả, cách nhà Võ ca, diện tích 72m2. Nhà tiền hiền bị tháo dỡ và sụp đỗ trong những năm kháng chiến chống Pháp. Về sau nhân dân đã tu bổ lại theo dáng dấp cũ, nhưng không nắm rõ nguyên tắc tu bổ di tích nên cũng mắc phải một số sai lệch nhỏ.

Nhà tiền hiền cũng được kiến tạo theo lối “tứ trụ” như Chính điện và Võ ca, các cột chính ở Tiền hiền cũng được chạm khắc và tạo dáng độc đáo theo dạng cột chính của Chính điện và Võ ca. Nội thất nhà Tiền hiền có ba khám thờ: Khám giữa thờ Tiền hiền của làng, hai bên tả hửu là hai khám thờ “Tứ thân phụ mẫu”. Các khám thờ đóng ghép khéo léo bằng gỗ, nội dung điêu khắc chạm trổ trên các khám được thể hiện khá tôn nghiêm qua hình tượng “tứ linh”, hoa lá, muông thú.

4. Cổng chính:

Nằm trước mặt tiền của Dinh, đây là lối ra chính, chỉ mở vào cửa vào các dịp lễ hội trong năm. Cổng chính mới được tôn tạo lại năm 1994, được kiến tạo theo dạng cổng Tam quan, mẫu cũ của Dinh đúng theo vị trí này từ đầu thế kỷ XX. Cổng có 3 lối vào dạng cửa vòm trịnh trọng, lối giữa rộng 2,4m và kiến tạo thành hai tầng, tầng trên thu nhỏ vút cao, đỉnh nóc cao 1,6m; hai lối phụ hai bên rộng 1,4m. Đỉnh nóc cổng trang trí hình tượng “Lưỡng long chầu nguyệt” oai phong, trên đỉnh nóc của hai lối phụ bài trí hai con rồng ngoảnh mặt nhìn về đỉnh nóc tôn nghiêm. Tất cả các góc máicủa hai tầng mái uốn cong như mũi thuyền được điểm xuyến các phù điêu giao long đắp nổi. Dọc trên các trụ cổng trang trí đắp nổi các hình tượng nghệ thuật uyển chuyển như rồng, giao long và các điển tích mô tả lại một phần truyền thuyết liên quan đến di tích. Cổng chính là một bộ phận kiến trúc nghệ thuật được tạo dựng công phu và hoàn mỹ, góp phần làm tăng thêm sự thâm niên, trang trọng của di tích.

5. Bình phong:

Cách nhà Võ ca về phía trước 10m là một bức bình phong xây vôi vữa che chắn lấy mặt tiền của Dinh. Cả hai mặt của bình phong đắp nổi khéo léo các hình tượng rồng vờn mây và long mã được thể hiện sinh động. Ở hai bên tả hữu của bình phong đặt hai tượng Bạch Hổ và Hắc Hổ trong tư thế ngồi xổm, đầu ngẩng cao nhìn về hướng chính điện, tượng trưng cho hai vệ sĩ của Thầy Thím mà truyền thuyết có đề cập đến.

Du khách đến viếng thăm Dinh sẽ cảm nhận được sự thanh thản, dễ chịu trước những kiến trúc mang tính đặc thù của địa phương, được nghe kể về sự tích Thầy Thím hấp dẫn, được tận mắt chứng kiến những hình tượng nghệ thuật sinh động gắn liền với truyền thuyết dân gian của địa phương. Giữa một môi trường trong sạch, một khung cảnh thiên nhiên hữu tình, đặc biệt là khi dạo chơi trong vườn Dinh với đủ loại hoa, cây cảnh xen giữa những cây dầu cổ thụ vút cao toả bóng rợp mát cả khuôn viên, du khách như được trút bỏ mọi ưu tư, phiền muộn của đời thường.

Lý thú và hấp dẫn hơn khi du khách dừng chân cắm trại trong các vạt rừng dầu, rừng tràm xung quanh Dinh, dạo sâu vào những cánh rừng già, vùng vẫy thoả thích giữa chốn không gian bao la, trước cảnh sắc nên thơ, những âm thanh huyền ảo vang vọng lại từ tiếng lay động của cành lá, tiếng chim hót líu lo, tiếng gọi nhau của loài dã thú sau một ngày đi kiếm ăn xa sẽ đưa lại cho du khách có cảm giác như đang dạo chơi giữa vườn tiên cõi Phật.

6 – Khu mộ Thầy Thím:

Toạ lạc giữa khu rừng Bàu Thông, ở vị trí  cách Dinh khoảng 3km về phía Tây, cảnh mộ thanh vắng, hết sức trữ tình không thua kém cảnh Dinh. Vốn gắn liền với tình cảm, niềm tin và tín ngưỡng lâu đời của nhân dân và du khách gần xa, nên mỗi khi đến thăm Dinh, du khách không thể quên viếng mộ Thầy Thím, việc làm đó thể hiện truyền thống văn hoá tốt đẹp biểu trưng cho đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam.

Từ Dinh, ngồi trên chiếc xe bò thô sơ xuyên qua cánh rừng dầu khoảng 3km về hướng Tây sẽ đưa du khách đến mộ Thầy Thím, du khách còn có thể đến mộ bằng phương tiện ôtô theo tỉnh lộ 709. Vào dịp lễ hội, con đường thanh vắng trở nên đông vui, nhộn nhịp khác thường.

Khu mộ có bốn nấm mộ đắp bằng cát trắng vút cao thành hai hàng, theo truyền thuyết dân gian thì hai mộ phía trước là mộ của Thầy Thím, hai mộ phía sau là mộ đôi Bạch – Hắc Hổ (vốn được coi là vệ sĩ, đệ tử của Thầy Thím). Từ năm 1988, Ban quản lý di tích đã xây dựng một bức tường thành bằng đá hình chữ nhật (cạnh 22m x 16,25m) bao bọc lấy khu mộ. Công trình Dinh thờ và mộ Thầy Thím là một quần thể kiến trúc nghệ thuật giá trị có sức thu hút du khách khi viếng thăm quê hương Tam Tân – La Gi.

Đọc tiếp : Trang 1Trang 2Trang 3Trang 4Trang 5Trang 6Trang 7

Comments

comments