130 Năm Dinh Thầy Thím

Dinh Thầy Thím tồn tại cách đây 130 năm – là di tích có giá trị nhiều mặt: Văn hoá, lịch sử, nghệ thuật điêu khắc. Song, vượt lên những công trình hiện hữu ấy là những giá trị văn hoá phi vật thể.Đó là đạo đức lối sống nhân ái, đạo nghĩa của vị Thần được thờ, mà bao năm qua đã trở thành biểu hiện văn hoá, cách ứng xử của người làng Tam Tân giàu lòng yêu nước và của đông đảo đồng bào chúng ta.

dinh-thay-thiem (2)

Dinh và sự tích Thầy Thím là một tài sản vô giá của làng Tam Tân. Tài sản đó không phải bỗng dưng có, mà nó được tạo dựng từ rất nhiều đời. Không phải được tạo dựng một cách đơn giản mà là quá trình lâu dài mang tính lịch sử, với sự đóng góp biết bao tình cảm và công sức của nhiều thế hệ.

Đọc tiếp : Trang 1Trang 2Trang 3Trang 4Trang 5Trang 6Trang 7

Sự tích dinh thầy thím

Theo truyền thuyết: Ngày xưa, ở tỉnh Quảng Nam có một đạo sĩ giàu lòng nhân ái, võ thuật hơn người, thường có những nghĩa cử cao đẹp được dân làng mến mộ. Vì bị nhà Vua xét xử oan ức, nên đạo sĩ cùng vợ phiêu dạt vào phương Nam lánh nạn. Tam Tân một vùng quê xa xôi và trù phú trở thành nơi dừng chân cuối cùng của vợ chồng đạo sĩ. Và cũng từ đây, những truyền thuyết, đức độ của vợ chồng đạo sĩ được hết lòng ca ngợi, dân làng Tam Tân thân thiết gọi vợ chồng đạo sĩ là Thầy – Thím.

Thầy sinh vào những năm đầu của thời Gia Long, thuở thiếu thời, Thầy vừa cần mẫn dùi mài kinh sử, vừa tầm sư học đạo, nuôi chí giúp đời, ước muốn thoả chí tung hoành ngang dọc. Việc lớn chưa thành, danh chưa toại thì Thầy gặp đại tang, Cha, Mẹ cùng lúc qua đời. Là người con hiếu thảo, Thầy ở lại quê nhà cùng vợ là người cùng phủ chịu tang Cha, Mẹ, sống những ngày tháng kham khổ. Làng quê Thầy – Thím nhiều năm liền hạn hán, mất mùa, đời sống của nhân dân cơ cực, cơm không đủ no, nước không đủ uống. Động lòng trước nổi khốn khổ của dân, Thầy lập đàn khấn nguyện. Trời đang trong xanh bỗng sấm chuyển ầm ầm, mưa như trút nước, cây cỏ hồi sinh. Từ đó, Thầy nổi danh là một đạo sĩ có tài, dùng phép thuật của mình để cứu giúp dân lành.

Một lần trong ngày hội đầu năm, dân làng mơ ước có một mái đình khang trang để thờ phụng thần hoàng như ngôi đình to lớn nhưng thiếu người thờ phụng ở ngôi làng bên. Như cảm thông với nỗi khát khao của những tấm lòng thành kính với thần linh, đêm hôm ấy, gió mưa dữ dội, chớp giật rung chuyển cả đất trời báo trước một điềm lạ. Quả nhiên khi trời yên, đất lặng, mọi người thấy ngôi đình mới toạ lạc ngay giữa làng, ngôi đình dột nát trước đây đã không còn nữa. Dân làng kinh ngạc rồi reo hò vui mừng. Niềm vui ấy chưa được bao lâu, thì làng bên kia trống giục liên hồi, cấp báo về Triều đình tố cáo Thầy dùng phép đánh cắp đình, âm mưu gây bạo loạn.

Thế là nhà Vua nghiêm trị Thầy ở mức cao nhất. Song, cảm thông trước khí khái quân tử, nhà Vua gia ân cho Thầy được chọn trong ba tội hình: xử trảm, uống thuốc độc hoặc tự thắt cổ. Thầy xin một tấm lụa đào và chọn hình thức sau cùng. Kỳ lạ thay, khi tấm lụa đào đến tay Thầy bỗng trở nên có sức sống kỳ lạ. Thầy múa xong một bài cũng là lúc lụa biến thành rồng nâng Thầy và Thím bay bỗng lên không trung trước nổi kinh ngạc của quan lại và dân làng. Khi bay qua quê mình, Thím còn làm rơi xuống một chiếc hài như một lời nhắn thưa từ biệt, rồi lụa rồng bay về phương Nam…

Từ đó, Thầy – Thím đến cư ngụ tại làng Tam Tân (nay là xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận). Dưới lớp áo của người xa quê đến lập nghiệp. Lúc đầu, Thầy – Thím ở trọ nhà ông Hộ Hai. Ngày ngày làm các nghề đốn củi, đóng ghe, bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Có điều lạ là lúc nào bên Thầy cũng có quả bầu khô, người ta nói Thầy có phép “sái đậu thành binh” (gieo đậu thành binh lính). Một hôm nhân lúc Thầy vội vã vào rừng mà quên đem theo chiếc bầu , chủ nhà tò mò lấy ra xem, bỗng lửa phụt ra thiêu trụi cả căn nhà. Sau khi làm lại căn nhà mới cho ông Hộ Hai và để tránh sự chú ý của nhiều người, Thầy Thím vào ở hẳn trong rừng sâu gần Bàu Cái.

Thế nhưng, càng ở xa dân cư, danh tiếng của Thầy càng lan rộng, Thầy nhận đóng ghe cho ngư dân và giao rất đúng hẹn. Quanh khu rừng vang lên tiếng đẵn gỗ, đục đẽo cả ngày, nhưng chưa bao giờ người ta thấy được một người giúp việc của Thầy. Từ cánh rừng nơi Thầy đóng ghe ra đến biển dài hơn 3km có mạch nước nhỏ đổ ra biển, dân địa phương tương truyền đó là dòng nước Thầy dùng gậy tạo ra để đưa ghe ra biển. Lạch nước ấy ngày nay vẫn còn, dân thường gọi là đường lướt ván.

Còn nhiều câu chuyện về lòng nhân ái của Thầy như trừng phạt bọn buôn gạo lợi dụng năm mất mùa bóp chẹt dân nghèo, cứu giúp dân chài trong cơn sóng to gió dữ… Không dừng lại ở đó, Thầy còn cảm hoá cả thú rừng là nỗi nơm nớp lo sợ của nhiều người khi buổi đầu khai phá thiên nhiên hoang dã.

Một ngày mùa thu, được tin Thầy Thím qua đời, dân làng loan báo tin buồn, vội vã vào đến nơi, thì thấy hai ngôi mộ bằng cát trắng phau được thú rừng vun đắp thành mộ ở gần nơi Thầy Thím tạ thế. Hằng năm, cứ đến mùng năm tháng giêng âm lịch, người ta thấy có đôi Bạch – Hắc Hổ thường xuyên về tảo mộ, phủ phục gần đó canh gác cho ngôi mộ. Về sau khi đôi Bạch – Hắc Hổ qua đời, dân làng an táng ngay sau ngôi mộ Thầy – Thím để tưởng nhớ hai con vật có nghĩa, tận trung với người.

Tỏ lòng nhớ công đức của Thầy – Thím, nhân dân địa phương chung sức lập đền thờ ở khu rừng Bàu Cái gần nơi hai người tạ thế. Ngày 15/9 âm lịch hằng năm là ngày lễ tế thu Thầy – Thím. Qua khói hương, trong tiếng chuông trầm mặc, nghĩa cử Thầy – Thím vẫn được dân gian lưu truyền. Thế nên đến đời Vua Thành Thái năm thứ 18, nhà Vua đã xem xét lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy – Thím là “Chí Đức Tiên Sinh, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần”.

Sự tích Thầy – Thím là một truyền thuyết dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nội dung mang nhiều yếu tố tích cực và có giá trị giáo dục. Sự tích còn đề cao tính nhân nghĩa, đạo đức, nhân cách cao cả qua nhân vật Thầy – Thím. Sau những câu chuyện thần thoại ấy, ta có thể tiếp cận được ý nghĩa và giá trị đích thực, nhằm đề cao lẽ phải, sự công bằng và chuẩn mực của xã hội, góp phần giáo dục truyền thống, nhân cách và lối sống tốt đẹp cho mọi thế hệ, giữ gìn nét thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc.

Ngày nay, khi đến tham quan quần thể di tích Dinh Thầy – Thím, chúng ta còn gặp nhiều di tích gắn liền với truyền thuyết ấy như: Gốc cây Thầy ngồi đẽo thuyền, đường lướt ván, bốn ngôi mộ bằng cát trắng phau, tượng đôi Bạch – Hắc Hổ ngồi chầu.

Mỗi năm, Dinh Thầy – Thím có hai ngày lễ lớn: Lễ Tảo Mộ (nhằm ngày mồng năm tháng giêng âm lịch) và Lễ Tế Thu (kéo dài từ ngày 14 – 16 tháng 9 âm lịch). Khói hương nghi ngút, tiếng chuông trầm bỗng như đưa du khách vào sâu thẳm của thế giới tâm linh. Lễ hội có nhiều trò vui cuốn hút mọi  người như: chèo bã trạo, diễn xướng tích Thầy, biểu diễn võ thuật, lân múa thi tài, … tạo nên tâm thế ngày hội vô cùng sôi động. Xin lộc Thầy, phóng sanh thả chim về rừng, cùng làm công tác từ thiện,… Âu cũng là cách thế tạo dựng niềm tin, tìm sự thanh thản cho tâm hồn.

Đọc tiếp : Trang 1Trang 2Trang 3Trang 4Trang 5Trang 6Trang 7

Comments

comments